Người Lao Động Làm Việc Tại Doanh Nghiệp Phải Đóng Những Loại Bảo Hiểm Nào

 Người lao động làm việc tại doanh nghiệp phải đóng những loại bảo hiểm nào

Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, theo đó, người lao động và người sử dụng lao động là một trong những đối tượng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm xã hội. Chính vì vậy, đây là loại hình bảo hiểm bắt buộc đối với các bên trong quan hệ lao động. Thực tế, người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội hoàn toàn không biết về quyền lợi và trách nhiệm của mình dẫn đến nhiều tình huống đáng tiếc xảy ra. Vậy khi tham gia bảo hiểm xã hội người lao động sẽ đóng bao nhiêu % và người sử dụng lao động sẽ đóng bao nhiêu %, ngoài ra mức lương đóng sẽ dựa trên lương thực lãnh hay mức lương nào. Trong bài viết này tôi sẽ làm rõ các vấn đề trên.

1. Mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội​

Căn cứ Khoản 2 Điều 6 Quyết định 595/2017/QĐ-BHXH thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế là mức lương, phụ cấp và các khoản bổ sung khác theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH. Cần lưu ý, không phải khoản phụ cấp nào cũng phải đóng bảo hiểm xã hội mà chỉ những loại phụ cấp được quy định mới phải đóng. Còn đối với khoản bổ sung khác thì phải mang tính chất thường xuyên, được trả vào cùng kỳ lương cho người lao động.

Lưu ý: căn cứ 2.3 Khoản 2 Điều 6 Quyết định 595/2017/QĐ-BHXH quy định:

Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc không bao gồm các khoản chế độ và phúc lợi khác, như tiền thưởng theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác ghi thành mục riêng trong HĐLĐ theo Khoản 11 Điều 4 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP

Như vậy, tiền lương đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trong hợp đồng lao động phù hợp với Hệ thống thang bảng lương của Doanh nghiệp đồng thời thấp nhất phải bằng mức lương tối thiểu vùng theo quy định tại Nghị định 90/2019/NĐ-CP. Ngoài mức lương chính thì trong Hợp đồng lao động các bên có thể thỏa thuận các khoản phu cấp, khoản bổ sung khác. Theo đó, những khoản phụ cấp dưới đây sẽ phải đóng bảo hiểm xã hội:

- Phụ cấp chức vụ, chức danh;

- Phụ cấp trách nhiệm;

- Phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;

- Phụ cấp thâm niên;

- Phụ cấp khu vực;

- Phụ cấp lưu động;

- Phụ cấp thu hút;

- Các phụ cấp có tính chất tương tự.

Từ những quy định trên, ta có thể hiểu: Tiền lương đóng BHXH, BHYT, BHTN = Mức lương + Phụ cấp lương + các khoản bổ sung khác.

Ví dụ 1: Doanh nghiệp A có trụ sở chính tại Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội thực hiện tuyển dụng nhân sự bộ phận kinh doanh. Theo đó, trong hợp đồng các bên thỏa thuận mức lương chính là 5.000.000 đồng/tháng. Ngoài ra, các bên còn thỏa thuận mức phụ cấp ăn trưa là: 600.000 đồng/ tháng. Phụ cấp xăng xe đi lại là: 500.000 đồng/ tháng và phụ cấp lưu động là: 300.000 đồng/ tháng. Vậy Nhân viên bộ phận kinh doanh sẽ phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trên mức lương nào?

- Mức lương chính của nhân viên kinh doanh: 5.000.000 đồng/ tháng. Đây là mức lương đã đáp ứng điều kiện là cao hơn hoặc bằng mức lương tối thiểu vùng theo Nghị định 90/2019/NĐ-CP (cụ thể, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội là vùng lương 1 với mức lương là: 4.420.000 đồng/ tháng, và những đối tượng có qua đào tạo thì phải cộng thêm 7%).

- Khoản phụ cấp: Theo quy định Điều 6 Quyết định 595/2017/QĐ-BHXH thì khoản phụ cấp lưu động là 300.000 đồng/ tháng sẽ thuộc loại phụ cấp phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.

Kết luận:

- Trong ví dụ trên, người lao động phải đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trên mức lương chính là 5.000.000 đồng và 300.000 đồng tiền phụ cấp lưu đồng. Vậy tổng số tiền làm căn cứ đóng là 5.300.000 đồng/ tháng.

- Giả sử trong tháng người lao động tại bộ phận kinh doanh của Doanh nghiệp A làm đầy đủ công thì số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm sẽ là 5.300.000 đồng/ tháng nhưng số tiền mà họ thực nhận về sẽ là 5.000.000 đồng tiền lương chính + 600.000 đồng tiền ăn trưa, 500.000 đồng tiền xăng xe và 300.000 đồng tiền phụ cấp lưu động. Tổng thực nhận là: 6.400.000 đồng. Vậy, tiền thực lãnh và tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm sẽ là khác nhau.

2. Tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động và người sử dụng lao động​

Căn cứ Điều 5 Quyết định 595/2017/QĐ-BHXH quy định, tổng tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của người lao động và người sử dụng lao động là: 32%. Theo đó, người sử dụng lao động đóng 21,5% còn người lao động đóng 10,5%. Cụ thể, mức đóng từng loại bảo hiểm như sau:

- Bảo hiểm xã hội: Người lao động đóng 8% vào quỹ hưu trí, tử tuất còn người sử dụng lao động đóng 17% (trong 17% có 14% là đóng vào quỹ hưu trí tử tuất còn 3% là đóng vào quỹ ốm đau, thai sản.

- Bảo hiểm tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp:

- Bảo hiểm y tế: Người lao động đóng 1.5% còn người sử dụng lao động đóng 3%.

- Bảo hiểm thất nghiệp: Người lao động đóng 1% và người sử dụng lao động cũng đóng 1%.

Ví dụ: Anh A đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp dựa trên mức lương là 5.000.000 đồng. Theo đó, hằng tháng Anh A bị Doanh nghiệp khẩu trừ 10,5% tính trên mức lương 5.000.000 đồng để đóng các loại bảo hiểm (525.000 đồng /tháng). Đối với doanh nghiệp sẽ thực hiện đóng 21.5% tính trên mức lương 5.000.000 đồng của người lao động (1.075.000 đồng). Như vậy, hàng tháng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp là: 1.600.000 đồng.

Kết luận: Như vậy việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là trách nhiệm của cả người lao động và người sử dụng lao động. Theo đó, người lao động sẽ đóng 10.5% còn người sử dụng lao động sẽ đóng 21.5%. Vậy có thể hiểu, người lao động sẽ đóng 1/3 số tiền bảo hiểm, còn doanh nghiệp sẽ phải đóng cho người lao động là 2/3 số tiền bảo hiểm.

Lưu ý: Để kiểm tra việc doanh nghiệp đang trừ tiền bảo hiểm của người lao động là đúng hay sai, có thể kiểm tra bằng cách: lấy số tiền BHXH bị trừ chia cho 10.5%
 
Last edited by a moderator: