Khi Nào Doanh Nghiệp Bị Cơ Quan Bảo Hiểm Xã Hội Thanh Tra Khi Đề Nghị Giải Quyết Chế Độ Thai Sản Cho Người Lao Động

Khi nào doanh nghiệp bị cơ quan bảo hiểm xã hội thanh tra khi đề nghị giải quyết chế độ thai sản cho người lao động
Chế độ thai sản là một trong những quyền lợi của người lao động nữ khi tham gia bảo hiểm xã hội tại các đơn vị sử dụng lao động. Theo đó, từ khi mang thai cho đến khi sinh con và đi làm trở lại sau sinh, người lao động được rất nhiều quyền lợi như: quyền lợi khám thai, quyền lợi trợ cấp sinh con, quyền lợi chế độ dưỡng sức sau sinh… Tuy nhiên, trong các quyền lợi nêu trên thì quyền lợi được nhận tiền trợ cấp 6 tháng khi nghỉ thai sản được nhiều người quan tâm nhất bởi đây là chế độ mà người lao động nhận được nhiều tiền trợ cấp nhất.

Trên thực tế, việc đóng bảo hiểm và làm chế độ bảo hiểm cho người lao động khi xảy ra sự kiện bảo hiểm sẽ chẳng có gì nếu cả người lao động và người sử dụng lao động thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nhưng đâu phải đơn vị nào cũng làm đúng nên dẫn đến nhiều người lao động, nhiều đơn vị lợi dụng các lỗ hổng của pháp luật để trục lợi quỹ bảo hiểm xã hội đặc biệt là các quyền lợi liên quan đến chế độ thai sản của lao động nữ khi sinh con. Vậy, khi nào thì đơn vị sẽ bị cơ quan bảo hiểm xã hội thanh kiểm tra khi nộp hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ thai sản cho người lao động? Dưới đây là bài tổng hợp các trường hợp để đơn vị biết để tránh cũng như chuẩn bị sẵn tâm lý chuẩn bị hồ sơ giải trình trên cơ quan bảo hiểm xã hội chủ quản.

Người lao động đề nghị hưởng chế độ thai sản có thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước khi sinh con từ 6 đến 8 tháng.​


Theo quy định tại Điều 31 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định: điều kiện hưởng chế độ thai sản là phải đóng được ít nhất 6 tháng bảo hiểm xã hội trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con. Do đó, đối với những người lao động nào mà kể từ thời điểm vào doanh nghiệp mới chỉ đóng bảo hiểm xã hội được từ 6 đến 8 tháng, sau đó nghỉ hưởng chế độ thai sản thì sẽ bị cơ quan bảo hiểm xã hội chuyên quản thanh tra. Lý do thanh tra được đưa ra là: nghi ngờ người lao động trục lợi quỹ bảo hiểm xã hội với một loạt các câu hỏi được đặt ra như: Người lao động có bầu rồi mà doanh nghiệp vẫn tuyển dụng vào làm à? Đây là câu hỏi rất hay gặp khi doanh nghiệp cầm hồ sơ lên giải trình. Về bản chất, không có sự phân biệt giữa lao động đang bầu hay lao động không bầu mà đơn giản là vì trên thực tế, đối với người lao động nữ đang trong độ tuổi sinh nở hoặc đang mang bầu thì các doanh nghiệp thường rất ngại tuyển dụng vì các chế độ liên quan đến luật lao động hoặc là các vấn đề khác liên quan đến chăm sóc con cái không chuyên tâm được cho công việc. Do vậy, nếu như biết rằng người lao động đang có bầu mà doanh nghiệp vẫn tuyển dụng thì họ nghi ngờ có dấu hiệu trục lợi.

Mặt khác, đối với người lao động chỉ có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ 6 tháng đến 8 tháng tức là người lao động đã có bầu rồi mới thực hiện đóng bảo hiểm. Điều này cho thấy một thực trạng nữa là: có rất nhiều doanh nghiệp khi tuyển dụng lao động vào làm việc thì không thực hiện đóng bảo hiểm nhưng đến khi nhân viên báo là có bầu và muốn được đóng bảo hiểm xã hội để nhận trợ cấp thai sản thì khi đó doanh nghiệp mới làm hồ sơ đóng bảo hiểm nên có những lao động chỉ đóng được 7 hoặc 8 tháng trước khi nghỉ sinh là vì như vậy. Nhưng cũng phải nói rằng: không phải doanh nghiệp nào cũng như vậy mà đây chỉ là các yếu tố đặt ra để cơ quan bảo hiểm xã hội chủ quản thanh kiểm tra để xử phạt những đối tượng vi phạm trục lợi quỹ bảo hiểm.

Như vậy, vấn đề đặt ra là cơ quan bảo hiểm xã hội chuyên quản chỉ nghi ngờ và kiểm tra hồ sơ của doanh nghiệp do đó, nếu doanh nghiệp giải trình được bằng các hồ sơ thì người lao động vẫn được nhận chế độ thai sản bình thường.

Khi nào doanh nghiệp bị cơ quan bảo hiểm xã hội thanh tra khi đề nghị giải quyết chế độ thai sản cho người lao động

Có rất nhiều doanh nghiệp khi tuyển dụng lao động vào làm việc thì không thực hiện đóng bảo hiểm nhưng đến khi nhân viên báo là có bầu và muốn được đóng bảo hiểm xã hội để nhận trợ cấp thai sản thì khi đó doanh nghiệp mới làm hồ sơ đóng bảo hiểm

Người lao động đề nghị hưởng chế độ thai sản mới vào công ty được một vài tháng nhưng đã nghỉ thai sản​


Chỉ cần đóng bảo hiểm đủ 6 tháng trong 12 tháng trước khi sinh con là người lao động đã được hưởng chế độ thai sản theo Điều 31 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014. Chính vì quy định này, nhiều người lao động đã cố tình hay hữu ý làm mọi cách để đóng đủ 6 tháng bảo hiểm với mong muốn nhận được tiền trợ cấp thai sản. Có thể do trước đó, người lao động đã đóng bảo hiểm được một vài tháng ở doanh nghiệp trước nhưng vì lý do nào đó như hết hợp đồng, bị sa thải, nghỉ ngang… mà người lao động không được tiếp tục đóng bảo hiểm. Do đó, người lao động tìm công việc mới với mong muốn được tiếp tục đóng bảo hiểm cho đủ thời gian 6 tháng và hưởng chế độ thai sản. Thông thường, những người như vậy họ chỉ thiếu khoảng 3, 4 tháng đóng bảo hiểm xã hội. Điều này dẫn đến tình trạng, người lao động vào đóng bảo hiểm ở công ty mới được 3 hoặc 4 tháng là nghỉ chế độ thai sản. Mặc dù, có thể xét trong 12 tháng trước khi sinh con người lao động đóng được 9 hoặc 10 tháng nhưng vẫn bị cơ quan bảo hiểm xã hội chủ quản thanh tra với lý do: nghi ngờ trục lợi quỹ thai sản.

Thông thường, đối với các doanh nghiệp khi tuyển dụng người lao động vào công ty sẽ không lựa chọn những người lao động đang bầu hoặc bầu sắp sinh để tuyển dụng vào doanh nghiệp. Đơn giản vì, nếu như người lao động vào được 2 3 tháng mới chỉ quen việc và bắt đầu nắm bắt được công việc thì lại nghỉ sinh mất 6 tháng, sau đó lại quay lại làm việc. Điều này sẽ gây ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của công ty và không chủ doanh nghiệp nào mong muốn điều đó. Chính vì vậy, nếu người lao động vào doanh nghiệp được 3 hoặc 4 tháng sau đó nghỉ thai sản luôn chỉ có thể thuộc 2 trường hợp: một là người lao động đó thực sự có chuyên môn và tạo ra giá trị cho doanh nghiệp và là người mà doanh nghiệp đang cần tìm, nên doanh nghiệp chấp nhận sự bất tiện nêu trên để tuyển dụng người lao động; hai là người lao động gửi nhờ công ty đóng thêm bảo hiểm để trục lợi quỹ bảo hiểm thai sản khi sinh con. Do đó, không phải mọi trường hợp đều là vi phạm nhưng xác suất là có do vậy, cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ thông báo việc thanh kiểm tra đối với đơn vị để làm rõ vấn đề trên. Nếu hồ sơ công ty cung cấp đầy đủ đáp ứng các quy định của luật lao động và luật bảo hiểm thì cơ quan bảo hiểm xã hội vẫn thanh toán chế độ thai sản bình thường.

Người lao động đề nghị hưởng chế độ thai sản thực hiện gửi đóng bảo hiểm tại các doanh nghiệp​


Do quyền lợi hưởng chế độ thai sản của bảo hiểm xã hội khá cao cũng như các điều kiện hưởng chế độ không quá khó nên có rất nhiều doanh nghiệp và người lao động thực hiện lách luật để trục lợi tiền thai sản. Từ đó, dẫn đến tình trạng người lao động tự bỏ tiền túi nhờ doanh nghiệp đóng toàn bộ bảo hiểm xã hội và để hưởng chế độ thai sản. Thông thường khi muốn đóng thì người lao động chỉ cần gửi đóng từ 6 đến 8 tháng là có thể được hưởng chế độ thai sản rồi. Nếu tính ra, số tiền đóng so với tiền trợ cấp thai sản nhận về sẽ thấp hơn và người lao động sẽ được hưởng khoản tiền chênh đó từ bảo hiểm xã hội.

Việc gửi tiền đóng bảo hiểm xã hội tại doanh nghiệp được hiểu là: người lao động thực tế không làm việc tại doanh nghiệp nhưng lại muốn hưởng chế độ của bảo hiểm. Theo quy định của Luật bảo hiểm năm 2014 thì người lao động phải làm việc tại các đơn vị sử dụng lao động và được đóng bảo hiểm thì khi sinh con sẽ được hưởng chế độ thai sản. Vậy, từ quy định trên, người lao động không thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện để hưởng thai sản nên phải gửi đóng nhờ để hưởng trợ cấp. Còn đối với doanh nghiệp, việc nhận người lao động đóng nhờ bảo hiểm với mục đích muốn giảm chi phí doanh nghiệp khi kê khai thuế. Vừa không mất tiền chi lương cho người lao động lại được khấu trừ tiền thuế hàng năm khi quyết toán. Chính vì vậy, dẫn đến trường hợp các doanh nghiệp cho người lao động gửi đóng nhờ.

Khi nào doanh nghiệp bị cơ quan bảo hiểm xã hội thanh tra khi đề nghị giải quyết chế độ thai sản cho người lao động

Tình trạng người lao động tự bỏ tiền túi nhờ doanh nghiệp đóng toàn bộ bảo hiểm xã hội và để hưởng chế độ thai sản

Vậy, khi người lao động nghỉ chế độ thai sản, doanh nghiệp làm hồ sơ đề nghị chi trả chế độ trên cơ quan bảo hiểm xã hội thì cán bộ chủ quản có nghi ngờ sẽ gửi công văn về đơn vị yêu cầu chuẩn bị hồ sơ giải trình. Nếu kiểm tra hồ sơ của doanh nghiệp thấy không đúng, không khớp hoặc có dấu hiệu trục lợi thì doanh nghiệp và người lao động sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Người lao động đề nghị hưởng chế độ thai sản có mức lương đóng bảo hiểm xã hội bất thường, không hợp lý​


Khi người lao động làm việc tại doanh nghiệp và được doanh nghiệp thực hiện đóng các chế độ bảo hiểm đầy đủ. Tuy nhiên, khi biết bản thân có bầu thì đóng tiền bảo hiểm xã hội cao hơn với mong muốn nhận được nhiều tiền trợ cấp khi nghỉ sinh. Từ đó dẫn đến 2 trường hợp điển hình để trục lợi bảo hiểm như:

Trường hợp thứ nhất: Người lao động đã được công ty đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ với mức lương bằng mức tối thiểu vùng, sau đó, khi biết bản thân có bầu thì đề nghị doanh nghiệp đóng bảo hiểm với mức lương cao hơn. Theo quy định tại Điều 39 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì trợ cấp thai sản khi sinh con 01 tháng được tính bằng 100% mức bình quân tiền lương đóng bảo hiểm của 6 tháng trước khi nghỉ việc. Do đó, khi thay đổi mức đóng bảo hiểm trong giai đoạn bầu thì số tiền trợ cấp thai sản nhận được cũng sẽ tăng lên khá đáng kể.

Trường hợp thứ hai: Người lao động được đóng bảo hiểm với mức lương cao hơn những chức danh khác của công ty mà đòi hỏi trình độ cao hơn. Cụ thể: mức lương nhân viên thông thường chỉ đạt mức tối thiểu là 4.730.000 đồng còn mức lương của giám đốc đóng bảo hiểm của công ty là 7.000.000 đồng. Nhưng khi có bầu, người lao động tăng mức lương đóng bảo hiểm của bản thân lên 8.000.000 đồng với mong muốn nhận được tiền thai sản cao hơn.

Vậy khi làm chế độ, cơ quan bảo hiểm sẽ phát hiện ra lỗ hổng này. Bởi việc trả lương hay đóng bảo hiểm cho người lao động của công ty phải được quy định rõ trong hệ thống thang bảng lương và quy chế trả lương trả thưởng tại doanh nghiệp. Ngoài ra, trong quá trình xây dựng hệ thống thang bảng lương, đối với từng chức danh công việc mức lương sẽ được quy định khác nhau với yêu cầu khác nhau. Do đó, lương của nhân viên đóng bảo hiểm mà cao hơn lương của trưởng phòng hoặc giám đốc mà lại không phù hợp với hệ thống thang bảng lương thì đây là điều vô lý. Chính vì lẽ đó, cơ quan bảo hiểm xã hội chủ quản sẽ gửi thông báo về doanh nghiệp yêu cầu chuẩn bị hồ sơ giải trình. Vậy nếu công ty giải trình được hồ sơ thì người lao động đó vẫn được bảo hiểm thanh toán chế độ thai sản bình thường.

Như vậy, từ những phân tích nêu trên ta thấy được có rất nhiều cách để người lao động và doanh nghiệp trục lợi quỹ bảo hiểm xã hội. Do đó, việc cơ quan bảo hiểm xã hội yêu cầu thành kiểm tra khi thấy có dấu hiệu trục lợi là điều dễ hiểu. Vậy nên, Doanh nghiệp và người lao động cần chấp hành đúng quy định của pháp luật về lao động – bảo hiểm nhằm đảm bảo quyền lợi của bản thân và không ảnh hưởng đến lợi ích của doanh nghiệp.
 
Last edited by a moderator: