Đóng Bảo Hiểm Xã Hội Lợi Hơn Đóng Bảo Hiểm Nhân Thọ Như Thế Nào?

Đóng bảo hiểm xã hội lợi hơn đóng bảo hiểm nhân thọ như thế nào?.png

Xét từ nhiều khía cạnh, bảo hiểm xã hộibảo hiểm nhân thọ là gần giống nhau. Tuy nhiên, bảo hiểm xã hội mang tính chất phi lợi nhuận với mục đích an sinh xã hội, đảm bảo cuộc sống cho người tham gia. Bảo hiểm nhân thọ mang tính chất kinh doanh kinh doanh rủi ro để thu về lợi nhuận cho chính các doanh nghiệp bảo hiểm. Các quyền lợi của hai loại hình bảo hiểm này về cơ bản là tương tự nhau nhưng đối với bảo hiểm nhân thọ các sản phẩm được chia nhỏ phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng. Hiện nay, rất nhiều người vẫn tranh cãi về việc tham gia bảo hiểm nhân thọ lợi hơn hay tham gia bảo hiểm xã hội lợi hơn. Bởi trên thực tế, hình thức bảo hiểm nhân thọ đối với người Việt Nam còn khá mới mẻ, họ thường tham gia bảo hiểm xã hội, bởi đây là loại hình bảo hiểm bắt buộc do Nhà nước quy định với từng đối tượng. Vậy, trong bài viết này, tôi sẽ đưa ra những mặt lợi khi tham gia bảo hiểm xã hội.

1. Đóng bảo hiểm xã hội được hỗ trợ mức đóng​


Bảo hiểm xã hội được chia thanh 02 hình thức: bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện. Tại Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định 11 trường hợp thuộc đối tượng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm xã hội như: người lao động làm việc theo hợp đồng lao động từ đủ 1 tháng trở lên; cán bộ, công chức, viên chức; người lao việc trong lực lượng công an nhân dân, quân đội nhân dân; cán bộ không chuyên trách xã phường…. Ngoài những đối tượng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì những đối tượng khác, muốn tham gia bảo hiểm xã hội thì phải tham gia qua hình thức tự nguyện với điều kiện từ đủ 15 tuổi trở lên. Đối với 02 hình thức đóng bảo hiểm xã hội nêu trên, người tham gia bảo hiểm sẽ được nhà nước hoặc người sử dụng lao động hỗ trợ tiền khi tham gia bảo hiểm. Theo đó, người tham gia bảo hiểm xã hội không phải đóng toàn bộ tiền phí như khi tham gia bảo hiểm hiểm nhân thọ. Cụ thể:
[/JUSTIFY]

1.1. Đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao động sẽ được người sử dụng lao động hỗ trợ mức đóng​


Căn cứ Điều 85, Điều 86 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì người lao động đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là 10,5%, trong đó gồm 8% đóng vào quỹ Hưu trí – tử tuất, 1.5% đóng vào quỹ Bảo hiểm y tế, 1% đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Người sử dụng lao động đóng cho người lao động là 21.5%, trong đó có 14% đóng vào quỹ Hưu trí – tử tuất, 3% đóng vào quỹ ốm đau – thai sản, 1% đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp, 3% đóng vào quỹ Bảo hiểm y tế và 0,5% đóng vào quỹ Tai nạn lao động – Bệnh nghề nghiệp. Vậy tổng mức đóng hàng tháng sẽ là 32%.

Tôi lấy một ví dụ để so sánh như sau:

Hiện tại tôi đang tham gia một hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ với mức phí của sản phẩm chính và các sản phẩm hỗ trợ như sau: Quyền lợi tử vong là 12.000.000 đồng/năm, thẻ chăm sóc sức khỏe cho bản thân với mức phí là 2.500.000 đồng/năm chỉ áp dụng khi điều trị nội trú, bảo hiểm tai nạn cao cấp với mức phí là 480.000 đồng/năm, bảo hiểm bệnh hiểm nghèo cao cấp với mức phí là 409.000 đồng/năm, thẻ chăm sóc sức khỏe cho con với mức phí 1.513.000 đồng/năm. Tổng phí mà tôi phải đóng 1 năm là: 17.012.000 đồng/năm. Số tiền này tôi phải đóng toàn bộ và không được sự hỗ trợ từ cá nhân, tổ chức nào.

Đối với việc đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Doanh nghiệp, hiện nay tôi đa làm việc và đóng bảo hiểm xã hội với mức lương tối thiểu vùng là 4.730.000 đồng/tháng. Theo đó, người lao động chỉ đóng 10,5% trên mức lương 4.730.000 đồng, theo đó 1 năm họ sẽ đóng với số tiền là: 4,730,000 * 12 * 10.5% = 5.959.800 đồng/năm. Người sử dụng lao động sẽ đóng cho người lao động là 21,5% trên mức lương 4,730,000 đồng, khi đó mức đóng 1 năm được tính là: 4,730,000 * 12 * 21,5% = 12,203,400 đồng/năm. Tổng mức đóng của 1 năm là: 17.879.400 đồng/năm. Phân bổ ra các quỹ sẽ là: quỹ Hưu trí – tử tuất là 12.487.200 đồng/năm (quỹ này tương ứng với quyền lợi tử vong của bảo hiểm nhân thọ), bảo hiểm ốm đau – thai sản là 1.702.800 đồng/năm, bảo hiểm tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp là: 283.800 đồng/năm, bảo hiểm y tế là: 2.554.200 đồng/năm (thẻ này tương ứng với thẻ chăm sóc sức khỏe của bảo hiểm nhân thọ), bảo hiểm thất nghiệp là 1.135.200 đồng/năm.

Như vậy, từ những thông tin nêu trên thấy rằng: cùng mức phí đóng là giống nhau như khi người lao động tham gia bảo hiểm xã hội sẽ được người lao động đóng 2 phần và người lao động chỉ phải đóng 1 phần. Còn khi tham gia bảo hiểm nhân thọ thì người tham gia phải đóng toàn bộ mức phí nêu trên. Rõ ràng, việc được người sử dụng lao động hỗ trợ mức đóng cũng như được nhà nước hỗ trợ đóng 1 phần sẽ giúp người lao động giảm bớt ngánh nặng về tài chính nhưng vẫn đảm bảo các yếu tố bảo vệ toàn diện khi tham gia bảo hiểm xã hội.

1.2. Đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, người tham gia được nhà nước hỗ trợ mức đóng​


Nhằm khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm xã hội, thực hiện bảo hiểm xã hội toàn dân, Nhà nước hỗ trợ đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện theo từng mức. Căn cứ Khoản 1 Điều 10 Nghị định 134/2015/NĐ-CP quy định mức hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội tử nguyện theo tỷ lệ (%) trên mức đóng bảo hiểm xã hội hàng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn như sau:

- Đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ nghèo được hỗ trợ là 30%.

- Đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ cận ngheo được hỗ trợ là 25%.

- Đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc đối tượng khác được hỗ trợ 10%.

Hiện nay, theo khoản 1 Điều 1 Quyết định 59/2015/QĐ-TTg thì mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn là 700.000 đồng/tháng/người. Do đó, các mức tiền hỗ trợ khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cho từng đối tượng là: người thuộc hộ nghèo: 46.200 đồng/tháng, người thuộc hộ cận nghèo là: 38.500 đồng/tháng, người thuộc đối tượng khác là 15.400 đồng/tháng.

Như vậy, mặc dù mức hỗ trợ của nhà nước là không nhiều nhưng cũng phần nào giảm gánh nặng cho người lao động khi họ có nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Ngoài được Nhà nước hỗ trợ theo các mức nêu trên, tại các địa phương khác nhau có thể được hỗ trợ từ các tổ chức, cá nhân khác.

2. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ ốm đau


Chế độ ốm đau của bảo hiểm xã hội được hiểu là tiền trợ cấp do cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả cho người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội nhưng không may bị ốm đau, tai nạn phải điều trị dẫn đến mất thu nhập. Đây không phải là khoản tiền hỗ trợ khi người lao động phải nằm viện mà là khoản tiền hỗ trợ cho người lao động nhằm thay thế một phần khoản tiền lương mà đáng lẽ ra nếu người lao động đi làm đầy đủ sẽ được người sử dụng lao động chi trả.

Trong các sản phẩm của bảo hiểm nhân thọ, không có các sản phẩm giống như quyền lợi chế độ ốm đau khi tham gia bảo hiểm xã hội. Một số doanh nghiệp bảo hiểm cũng có khoản hỗ trợ này nhưng là chi phí khi người lao động nằm viện, đây là một quyền lợi trong bảo hiểm sức khỏe của bảo hiểm nhân thọ. Cụ thể: khi bên mua bảo hiểm lựa chọn gói bảo hiểm chăm sóc sức khỏe chi trả một khoản tiền cụ thể theo ngày nằm viện thì người được bảo hiểm cứ nằm viện ngày nào sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền ngày đó. Ví dụ, anh A mua gói bảo hiểm nhân thọ, theo đó, nếu trong thời gian hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực, anh A phải nằm viện để điều trị bệnh sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm chi trả 500.000 đồng/ngày và bị giới hạn số ngày hưởng trong 1 năm. Nhìn qua thì sản phẩm này có vẻ giống với chế độ ốm đau của bảo hiểm xã hội nhưng xét đúng thì đây là bảo hiểm sức khỏe của các doanh nghiệp bảo hiểm. Thay vì họ chi trả theo chi phí thực tế mà người tham gia bảo hiểm phải điều trị trong viện thì nay, doanh nghiệp bảo hiểm họ chi trả khoản tiền cố định theo ngày nằm viện để người tham gia có khoản tiền trang trải chi phí trong viện.

Đóng bảo hiểm xã hội lợi hơn đóng bảo hiểm nhân thọ như thế nào-1.png

Như vậy, khi tham gia bảo hiểm xã hôi bắt buộc người lao động còn được hỗ trợ thêm trợ cấp ốm đau khi chẳng may phải nằm viện do tai nạn hoặc bệnh tật, song song với việc hưởng chế độ ốm đau thì người lao động được sử dụng thẻ bảo hiểm y tế để được hưởng các chi phí, dịch vụ khác khi nằm viện. Còn đối với bảo hiểm nhân thọ thì người tham gia hoặc chỉ được thanh toán các chi phí điều trị trong viện (tương ứng với thẻ bảo hiểm y tế) hoặc được trả một khoản tiền cố định tính trên 1 ngày nằm viện (giống như chế độ ốm đau của bảo hiểm xã hội) mà không phải được các hai như khi tham gia bảo hiểm xã hội.

3. Chế độ thai sản cho người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội dễ dàng hơn khi mua Bảo hiểm nhân thọ


Trong Bảo hiểm nhân thọ, người tham gia có thể mua kèm sản phẩm bảo hiểm thai sản để được hưởng các quyền lợi khi sinh con. Về bản chất, quyền lợi thai sản của Bảo hiểm nhân thọ không khác gì nhiều so với quyền lợi thai sản của Bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, điều kiện tính hưởng của hai loại hình bảo hiểm lại khác nhau. Cụ thể:

- Đối với quyền lợi thai sản của Bảo hiểm nhân thọ, người tham gia muốn được hưởng thai sản thì đa số các doanh nghiệp bảo hiểm quy định: phải có thời gian chờ ít nhất là 270 ngày. Điều này được hiểu là: kể từ thời điểm bên mua bảo hiểm ký hợp đồng, muốn được hưởng quyền lợi thai sản thì không được mang bầu trong 270 ngày đầu tiên (9 tháng chờ). Nếu có bầu trong thời gian chờ thì người tham gia bảo hiểm sẽ không nhận được các quyền lợi khi sinh con.

- Đối với quyền lợi thai sản trong Bảo hiểm xã hội: Điều 31 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định: người lao động muốn được hưởng chế độ thai sản thì cần đóng được ít nhất là 06 tháng bảo hiểm xã hội trong 12 tháng trước khi sinh con. Từ quy định trên ta có thể hiểu: tính từ thời điểm người lao động sinh con trở về trước 12 tháng, người lao động chỉ cần đóng 6 tháng bảo hiểm xã hội là được hưởng chế độ thai sản.

Rõ ràng, quy định về điều kiện hưởng chế độ thai sản của người tham gia bảo hiểm xã hội đơn giản hơn rất nhiều so với quyền lợi thai sản của Bảo hiểm nhân thọ. Kể cả người lao động đã có thai rồi mới đóng bảo hiểm xã hội thì khi sinh con mà đáp ứng điều kiện thì vẫn được hưởng chế độ thai sản. Có những trường hợp phát hiện ra có bầu rồi mới làm thủ tục đóng bảo hiểm xã hội nhưng khi sinh con vẫn được trợ cấp thai sản bình thường. Nếu có thì người lao động đó sẽ bị cơ quan bảo hiểm xã hội chủ quản thanh kiểm tra việc trục lợi bảo hiểm. Trường hợp sau khi thanh kiểm tra mà không phát hiện có dấu hiệu trục lợi thì cơ quan bảo hiểm vẫn thanh toán quyền lợi thai sản cho người lao động bình thường. Điều này trái ngược hoàn toàn so với quyền lợi thai sản của bảo hiểm nhân thọ: bởi, chỉ cần bên mua bảo hiểm có bầu trong 270 ngày chờ thì mặc định sẽ bị doanh nghiệp bảo hiểm từ chối chi trả tiền thai sản. Có thể nói: đây là một trong những ưu điểm của bảo hiểm xã hội so với bảo hiểm nhân thọ.

Hơn nữa, trong thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của Bảo hiểm xã hội còn được khá nhiều quyền lợi khác.

- Được cơ quan bảo hiểm xác nhận thời gian nghỉ thai sản là có tham gia bảo hiểm xã hội: Căn cứ Khoản 2 Điều 39 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 và Khoản 6 Điều 42 Quyết định 595/QĐ-BHXH thì trong thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản thì người sử dụng lao động và người lao động không phải đóng Bảo hiểm xã hội nhưng vẫn được tính là thời gian có tham gia bảo hiểm xã hội. Điều này được hiểu là: thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản sẽ được cơ quan bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm. Thời gian này được tính để sau này người lao động được hưởng các chế độ của bảo hiểm tương ứng như: chế độ ốm đau, thai sản, hưu trí, rút bảo hiểm xã hội một lần…. Nếu so với việc đóng Bảo hiểm nhân thọ thì quyền lợi này của Bảo hiểm xã hội quả là ưu thế hơn rất nhiều.

- Được hưởng các quyền lợi của thẻ Bảo hiểm y tế trong thời gian nghỉ thai sản: Đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại các đơn vị sử dụng lao động, khi đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản thì đơn vị sẽ làm hồ sơ báo giảm nghỉ thai sản. Khi đó, người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm nhưng 6 tháng nghỉ thai sản đó người lao động vẫn được sử dụng thẻ bảo hiểm y tế và hưởng các quyền lợi bình thường. Đây là quyền lợi của người lao động khi sinh con được cơ quan bảo hiểm trích quỹ bảo hiểm để đóng phí bảo hiểm y tế. Điều này khác hẳn với việc tham gia bảo hiểm nhân thọ, bởi trong bảo hiểm nhân thọ không có các quyền lợi ưu tiên như vậy và luôn dựa theo nguyên tắc có đóng có hưởng, kể cả bên mua bảo hiểm có ốm đau, thai sản thì khi đến hạn đóng phí vẫn phải đóng đầy đủ mà không được các doanh nghiệp bảo hiểm miễn phí hoặc hỗ trợ tiền đóng như trong Bảo hiểm xã hội.

4. Quyền lợi hưu trí của Bảo hiểm xã hội ưu Việt hơn​


Theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì người lao động đóng tối thiểu 20 năm bảo hiểm xã hội và 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ sẽ đủ điều kiện nghỉ hưu. Bảo hiểm hưu trí của bảo hiểm nhân thọ cũng lấy độ tuổi về hưu theo chuẩn của Luật bảo hiểm xã hội 2014. Tuy nhiên, quyền lợi hưu trí khi tham gia bảo hiểm xã hội có nhiều ưu điểm hơn so với quyền lợi hưu trí của bảo hiểm nhân thọ, cụ thể như sau:

- Quyền lợi hưu trí của bảo hiểm nhân thọ giới hạn thời gian nhận lương hưu. Theo đó, khi bên mua bảo hiểm lựa chọn gói bảo hiểm hưu trí sẽ lựa chọn các quyền lợi kèm theo như hưu trí cao niên hoặc hưu trí bách niên (trong gói Hưu trí An Khang của Bảo hiểm Bảo Việt) tức, người được bảo hiểm chỉ được huongr lương hưu 15 năm hoặc 20 năm hoặc chọn gói hưu trí trọn đời thì phí đóng sẽ cao hơn và tiền hưu nhận về sẽ ít hơn. Nhưng đối với quyền lợi hưu trí của Bảo hiểm xã hội không giới hạn thời gian nhận lương hưu. Người tham gia bảo hiểm sẽ được nhận lương hưu đến trọn đời với mức lương hưu được tính toán cụ thể theo công thức luật định, mức lương hưu là cố định từ khi nhận đến khi tử vong. Công thức tính lương hưu được áp dụng tính là như nhau đối với mọi đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội.

- Được chế độ tử tuất khi người lao động đang hưởng lương hưu mà mất: Khi tham gia bảo hiểm nhân thọ, nếu đang hưởng các quyền lợi hưu trí mà người được bảo hiểm mất thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chi trả giá trị hoàn lại của Hợp đồng bảo hiểm, thân nhân của người được bảo hiểm không được nhận khoản tiền mai táng phí. Đối với bảo hiểm xã hội, nếu đang hưởng lương hưu mà người lao động mất thì luôn luôn nhận được trợ cấp mai táng phí bằng 10 lần mức lương cơ sở theo Điều 66 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014. Hiện nay mức lương cơ sở là 1.490.000 đồng nên trợ cấp mai táng phí là 14.900.000 đồng. Ngoài ra, thân nhân người lao động còn được nhận trợ cấp tuất. Nếu thân nhân thuộc các trường hợp tại Điều 67 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 (con dưới 18 tuổi, con trên 18 tuổi mất khả năng lao động, vợ/chồng trên 55 tuổi không có thu nhập, lương hưu, hoặc bố mẹ già không có thu nhập….) sẽ được nhận trợ cấp tuất hàng tháng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi mất. Vậy, rõ ràng khi tham gia bảo hiểm xã hội, người lao động và thân nhân của người lao động được đảm bảo hơn về cuộc sống cũng như những quyền lợi do bảo hiểm chi trả.

- Khi hưởng lương hưu, người lao động được cấp thẻ Bảo hiểm y tế miễn phí dùng trọn đời: Tại Khoản 2 Điều 12 Luật bảo hiểm y tế năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 thì đối tượng người lao động hưởng lương hưu sẽ được cơ quan bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm y tế. Theo đó, kể từ thời điểm người lao động có quyết định nghỉ hưu sẽ được cấp phát thẻ bảo hiểm y tế dùng miễn phí với thời hạn là trọn đời, mức hưởng lên đến 95% chi phí khám chữa bệnh. Nếu mua thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện ở địa phương hiện nay với mức giá hơn 800.000 đồng/năm thì người lao động tiết kiệm được khá nhiều tiền mua bảo hiểm y tế. Điều này đặc biệt có ý nghĩa nhất là trong giai đoạn hết tuổi lao động, không kiếm được ra thu nhập để phục vụ các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Đối với quyền lợi hưu trí khi tham gia bảo hiểm nhân thọ hoàn toàn không có quyền lợi thẻ chăm sóc sức khỏe kể từ thời điểm người đươc bảo hiểm đủ điều kiện hưởng lương hưu theo hợp đồng bảo hiểm đã được ký kết với Doanh nghiệp bảo hiểm.

- Điều chỉnh mức lương hưu định kỳ hằng năm: Theo từng giai đoạn, Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ ban hành các văn bản để điều chỉnh mức lương hưu cho người lao động nhằm đảm bảo mức lương hưu của người lao động không thấp hơn mức lương cơ bản do Nhà nước ban hành theo các năm. Bởi, tiền lương hưu sau 10 năm, 20 năm sẽ bị mất giá trị do trượt giá của đồng tiền, do đó, việc định kỳ điều chỉnh mức lương hưu cho những đối tượng hưởng lương hưu mà có mức hưởng thấp hơn mức tối thiểu sẽ đảm bảo hơn và phù hợp hơn với nhu cầu cuộc sống của họ. Điều này chỉ có trong Bảo hiểm xã hội mà bảo hiểm nhân thọ không có các quy định này, đây là một trong những ưu điểm của quyền lợi hưu trí khi tham gia bảo hiểm xã hội.

5. Chế độ tử tuất cho thân nhân người tham gia bảo hiểm xã hội mang tính nhân văn, an sinh xã hội​


Chế độ tử tuất là một trong 05 chế độ khi người lao động tham gia bảo hiểm xã hội, theo đó, khi người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội mà chết thì thân nhân của họ sẽ được hưởng trợ cấp mai táng phí và trợ cấp tiền tuất. Tiền tuất bảo hiểm xã hội sẽ được trả cho thân nhân bằng hình thức nhận tuất một lần hoặc nhận tuất hàng tháng. Nếu thân nhân của người lao động đó không đủ điều kiện nhận trợ cấp tuất hàng tháng thì sẽ được nhận trợ cấp tuất một lần theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014.

Chế độ tử tuất của bảo hiểm xã hội không khác gì so với quyền lợi tử vong của sản phẩm chính khi tham gia Bảo hiểm nhân thọ. Tuy nhiên, ở hai loại hình bảo hiểm khác nhau, các quyền lợi cũng khác nhau. Xét góc độ an sinh, xã hội thì Bảo hiểm xã hội của nhà nước ưu Việt hơn hẳn, cụ thể:

- Nếu như tham gia Bảo hiểm nhân thọ, người được bảo hiểm không may tử vong thì thân nhân sẽ nhận được một khoản tiền bồi thường bằng với số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm cam kết khi ký hợp đồng bảo hiểm. Khoản tiền bồi thường có thể lớn hay nhỏ phụ thuộc vào mệnh giá đóng phí của người tham gia. Tuy nhiên, khoản tiền bồi thường khi người được bảo hiểm tử vong là cố định trong suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm. Dù người được bảo hiểm tử vong ở bất kỳ thời điểm nào của hợp đồng thì thân nhân vẫn được nhận về số tiền bảo hiểm là như vậy. Nhưng trên thực tế, đồng tiền liên tục mất giá theo từng năm mà thời hạn tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường kéo dài 10 năm, 15 năm hoặc 20 năm. Tại thời điểm ký hợp đồng, số tiền bồi thường do tử vong được doanh nghiệp bảo hiểm cam kết chi trả là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) nhưng 10 năm 20 năm sau thì số tiền đó chẳng còn giá trị giống như một tỷ đồng của 20 năm trước đó. Đối với bảo hiểm xã hội thì hoàn toàn khác, khi người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm, Luật bảo hiểm không đưa ra số tiền bồi thường cụ thể trong trường hợp người lao động tử vong mà việc tính toán tiền trợ cấp cho người lao động trong trường hợp tử vong được xác định theo công thức tính cụ thể, số tiền tử vong được nhận nhiều hay ít phụ thuộc vào số năm người lao động tham gia bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, điều đáng nói là: trong công thức tính tiền bồi thường sẽ được áp hệ số trượt giá để tránh sự mất giá của đồng tiền. Vì vậy, số tiền mà thân nhân người lao động nhận được khi mất là tương đương với giá trị tại thời điểm lãnh trợ cấp mà không bị mất giá nhiều như khi tham gia Bảo hiểm nhân thọ. Mỗi một năm một lần, Bộ lao động thương binh và xã hội sẽ ban hành một thông tư quy định về hệ số trượt giá dùng để tính toán các chế độ cho người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội như chế độ tử tuất, chế độ bảo hiểm xã hội một lần, chế độ hưu trí. Mới đây nhất là Thông tư số 23/2020/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2020, hệ số trượt giá quy định trong thông tư này được áp dụng trong năm 2021, năm 2020 áp dụng theo Thông tư số 35/2019/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2019, năm 2019 áp dụng theo Thông tư số 35/2018/TT-BLĐTBXH ngày 26/12/2018…

- Tiền trợ cấp tuất khi tham gia bảo hiểm xã hội và tiền bồi thường khi người được bảo hiểm tử vong khi tham gia bảo hiểm nhân thọ về bản chất đều là khoản tiền hỗ trợ cho thân nhân người tham gia bảo hiểm để bù đắp rủi ro cũng như là một phần tiền để lo cuộc sống cho những người phụ thuộc. Tuy nhiên, cách thức chi trả tiền bảo hiểm của hai loại hình là hoàn toàn khác nhau, nếu nhìn sâu sắc hơn một chút thì: tính nhân văn, tính an sinh của Bảo hiểm xã hội vượt trội hơn rất nhiều so với Bảo hiểm nhân thọ. Bởi: khoản tiền thân nhân được nhận khi người được bảo hiểm tử vong đã được các doanh nghiệp bảo hiểm tính toán rất kỹ và đương nhiên họ sẽ không để họ bị thiệt mà mức tiền đó sẽ là phù hợp để bù đắp những rủi ro của người tham gia. Đúng là bên mua bảo hiểm nhân thọ có được lợi vì được bồi thường một khoản tiền lơn. Nhưng ngược lại, đối với bảo hiểm xã hội thì trên cả sự bồi thường, đó là sự an sinh cho xã hội, bởi có những trường hợp bảo hiểm xã hội chấp nhận lỗ so với những gì mà người tham gia bảo hiểm đã đóng phí vào. Điều này được chứng minh cụ thể qua trợ cấp tuất hàng tháng cho thân nhân người lao động khi họ chết (phần phân tích tôi chỉ đề cập cho những trường hợp đủ điều kiện để thân nhân nhận trợ cấp tuất hàng tháng).

+ Trợ cấp tuất hàng tháng của Bảo hiểm xã hội mang tính an sinh xã hội khi: người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội hoặc đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội hoặc đang hưởng lương hưu không may mất thì sẽ có 04 thân nhân được nhận trợ cấp tuất hàng tháng nếu đủ điều kiện. Mức hỗ trợ bằng 50% hoặc 70% mức lương cơ sở, số tiền nhận được giao động 745.000 đồng đến 1.043.000 đồng/tháng. Nhưng điều đáng nói ở đây là: các đối tượng được nhận trợ cấp tuất hàng tháng là con của người mất dưới 18 tuổi hoặc trên 18 tuổi mà không có khả năng lao động, bị suy giảm khả năng lao động và khi đó sẽ được nhận tiền tuất đến khi 18 tuổi (trường hợp bình thường) hoặc nhận đến hết đời (trường hợp trên 18 tuổi nhưng mất khả năng lao động); hoặc đối tượng là bố mẹ đẻ, bố mẹ vợ/chồng không có thu nhập hoặc vợ/chồng của người chết không có thu nhập và họ sẽ được hưởng đến khi mất. Vậy, ta có thể tính một bài toán như sau: một người mất nhưng 04 thân nhân được nhận trợ cấp tuất hàng tháng, mỗi thân nhân được nhận là 745.000 đồng/tháng, con nhỏ được nhận đến khi 18 tuổi, bố mẹ già được nhận đến khi già yếu chết. Vậy thời gian nhận tính ra là 10 năm 15 năm hoặc hơn thế nữa. Vậy rõ ràng, số tiền mà người lao động đã bỏ ra để đóng bảo hiểm chắc chắn ít hơn rất nhiều so với những quyền lợi mà thân nhân họ nhận được. Thậm chí, nói chính xác hơn là bên bảo hiểm xã hội còn lỗ nặng. Tính an sinh của chế độ tử tuất còn ở chỗ, bảo hiểm xã hội chi trả tiền trợ cấp tuất cho thân nhân theo tháng mà không trả một cục tiền như bảo hiểm nhân thọ, bởi con người ta khi có tiền là sẽ tiêu hết mà không nghĩ đến tương lai sau này. Do đóm bảo hiểm xã hội chi trả tiền theo tháng là mục đích an sinh xã hội cao nhất và đảm bảo nhất cho cuộc sống của thân nhân người lao động sau khi họ mất.

+ Theo quy định của Luật bảo hiểm thì người lao động đang đóng bảo hiểm từ 15 năm trở lên, người đang hưởng lương hưu hoặc người lao động bị tai nạn lao động mà mất thì thân nhân đủ điều kiện sẽ được nhận trợ cấp tuất hàng tháng. Theo như số liệu tính toán của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, người lao động đóng bảo hiểm 20 năm thì đủ điều kiện tối thiểu để về hưu nhưng số tiền họ đóng vào chỉ đủ để chi trả 7 đến 8 năm lương hưu của họ. Như vậy, nếu người lao động sống thọ đến 70 hoặc 80 tuổi thì số tiền hưu của họ sẽ do cơ quan bảo hiểm xã hội bù ra để an sinh cho họ. Không những thế, có những trường hợp hưởng lương hưu đến 70 tuổi, 80 tuổi rồi khi mất thì thân nhân lại được trợ cấp tuất hàng tháng (Điều 67 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014), mà một người mất thì 04 thân nhân được hưởng tiền tuất hàng tháng. Có những thân nhân hưởng tiền tuất 5 năm, 10 năm vậy số tiền trợ cấp đó đều do bảo hiểm xã hội bù ra để an sinh cho những đối tượng này. Hoặc những trường hợp chẳng may bị tai nạn lao động trong quá trình làm việc, họ mới đóng được 1 năm, 2 năm bảo hiểm nhưng thân nhân của họ lại được hỗ trợ tiền tuất hàng tháng đến trọn đời hoặc đến 18 tuổi (như phân tích ở trên). Phải nói rằng, bảo hiểm xã hội mang tính nhân văn, đảm bảo cuộc sống an sinh cho người lao động và thân nhân của người lao động.

6. Thẻ bảo hiểm y tế của Bảo hiểm xã hội có nhiều ưu điểm hơn so với thẻ chăm sóc sức khỏe của Bảo hiểm nhân thọ.​


Trong bảo hiểm nhân thọ, bên mua bảo hiểm có thể mua kèm thẻ sức khỏe (nhiều doanh nghiệp bảo hiểm gọi là Bảo hiểm sức khỏe) để được các quyền lợi khi phải nằm viện để điều trị bệnh. Thẻ sức khỏe của bảo hiểm nhân thọ không khác gì nhiều so với thẻ bảo hiểm y tế khi tham gia bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, khi sử dụng thẻ bảo hiểm y tế nhà nước người tham gia nhận được nhiều lợi ích hơn so với thẻ chăm sóc sức khỏe của bảo hiểm nhân thọ. Cụ thể:

- Vẫn mua được thẻ Bảo hiểm y tế khi đã có sẵn bệnh: Bảo hiểm y tế là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận được Nhà nước đảm bảo thực hiện với mục đích an sinh xã hội. Do đó, chỉ cần có nhu cầu là người dân có thể mua bảo hiểm y tế để khám chữa bệnh và vẫn được thanh toán các quyền lợi bình thường. Đối với bảo hiểm nhân thọ, nếu như bên mua bảo hiểm đã có sẵn bệnh lý thì khi mua thẻ chăm sóc sức khỏe sẽ bị loại trừ đối với bệnh đó. Điều này được hiểu là: Ví dụ anh A bị bệnh tiểu đường nếu được Doanh nghiệp bảo hiểm chấp thuận bảo hiểm và mua kèm thẻ chăm sóc sức khỏe thì anh A sẽ không được chi trả các quyền lợi khi khám, chữa bệnh liên quan đến tiểu đường. Nhưng nếu anh A điều trị các loại bệnh khác thì vẫn được hưởng các quyền lợi bình thường. Ngược lại, bảo hiểm y tế của Bảo hiểm xã hội hoàn toàn khác, khi đã có bệnh, người lao động muốn mua thẻ bảo hiểm y tế để được hưởng quyền lợi bảo hiểm khi đi khám chữa bệnh thì vẫn được bảo hiểm thanh toán bình thường mà hoàn toàn không bị loại trừ đối với bệnh có sẵn như khi mua thẻ chăm sóc sức khỏe của Bảo hiểm nhân thọ. Người mua thẻ bảo hiểm y tế chỉ cần đợi hết thời gian chờ để có thể sử dụng được thẻ bảo hiểm y tế là sẽ được thanh toán các chi phí khi nằm viện. Đây là điểm ưu thế của thẻ bảo hiểm y tế so với thẻ chăm sóc sức khỏe của Bảo hiểm nhân thọ.

- Mức phí khi mua thẻ chăm sóc sức khỏe của bảo hiểm nhân thọ sẽ tăng theo năm, theo tuổi của người tham gia. Thẻ chăm sóc sức khỏe mua với mức phí nhiều hay ít sẽ phụ thuộc vào độ tuổi của người tham gia. Ví dụ như thẻ của bên bảo hiểm Dai-ichi, đối với hạng thẻ cao cấp khi mua ở tuổi 25 mức phí là 3.500.000 đồng/năm nhưng cũng quyền lợi như vậy mà mua ở độ tuổi 51 thì phí sẽ là 6.200.000 đồng/năm. Rõ ràng, mức phí là rất cao nhưng đối với thẻ bảo hiểm y tế lại khác, kể cả người tham gia bảo hiểm có bệnh lý sẵn hoặc bao nhiêu tuổi thì mức mua vẫn giống nhau. Chẳng hạn, thẻ bảo hiểm mua theo diện tự nguyện là 805.000 đồng/năm thì người 25 tuổi với người 51 tuổi mức phí vẫn là 805.000 đồng/năm.

Từ những quyền lợi ưu thế hơn so với thẻ chăm sóc sức khỏe của Bảo hiểm nhân thọ, trường hợp bên mua bảo hiểm là người đã có tuổi mà có sẵn các bệnh lý thì tôi thường khuyên họ nên mua bảo hiểm y tế nhà nước được nhiều quyền lợi hơn là thẻ chăm sóc sức khỏe của bảo hiểm nhân thọ. Vì mua bảo hiểm y tế mức phí thấp, cố định không bị thay đổi theo số tuổi lại không bị loại trừ bệnh sẵn có. Tránh trường hợp khi mua thẻ chắc sóc sức khỏe của Bảo hiểm nhân thọ thì bệnh muốn được hỗ trợ lại không được gì khiến người tham gia bảo hiểm hiểu nhầm.

7. Bảo hiểm xã hội có chính sách liên quan đến trợ cấp thất nghiệp mà bảo hiểm nhân thọ không có​


Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ phải đóng 03 loại bảo hiểm là Bảo hiểm xã hội (gồm các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất), Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp. Trong đó, bảo hiểm thất nghiệp là một quyền lợi của người lao động được chi trả trong trường hợp người lao động không may bị thất nghiệp, không có việc làm. Vậy, trong khoảng thời gian không có việc làm, không có thu nhập, phải tìm kiếm công việc mới thì sẽ được quỹ bảo hiểm thất nghiệp thanh toán trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 49 Luật việc làm năm 2013.

Bảo hiểm thất nghiệp là một trong những quyền lợi của người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại các đơn vị sử dụng lao động. Bảo hiểm thất nghiệp không có quy định về việc đóng tự nguyện mà là hình thức đóng bảo hiểm bắt buộc chỉ áp dụng cho một số đối tượng. Đối với mô hình kinh doanh bảo hiểm hiện nay, chưa có một doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nào tung ra sản phẩm giống hoặc gần giống với sản phẩm bảo hiểm thất nghiệp của bảo hiểm xã hội. Vì bảo hiểm thất nghiệp có rất nhiều ý nghĩa và đem lại không ít những quyền lợi, đảm bảo cuộc sống cho không ít người lao động mất việc đặc biệt trong thời gian dịch covid đang diễn biến khá phức tạp như hiện nay. Cũng có thể các doanh nghiệp bảo hiểm đang nghiên cứu các sản phẩm bảo hiểm tương tự nhưng chưa đưa ra được các quy chuẩn sao cho phù hợp với loại hình bảo hiểm này. Như vậy có thể nói, bảo hiểm thất nghiệp chỉ có trong bảo hiểm xã hội mà những người tham gia bảo hiểm nhân thọ sẽ không có được các sản phẩm tương tự như sản phẩm này.

Đóng bảo hiểm xã hội lợi hơn đóng bảo hiểm nhân thọ như thế nào-2.png

8. Nếu người lao động không có nhu cầu tham gia bảo hiểm thì có thể tất toán để nhận về một khoản tiền.​


Nếu ai đã từng tham gia Bảo hiểm nhân thọ hoặc từ đọc báo về các vụ việc liên quan đến việc Bảo hiểm nhân thọ lừa đảo khi bên mua bảo hiểm hủy ngang hợp đồng và bị mất trắng tiền đóng của các năm trước đó. Thật ra, bảo hiểm nhân thọ không lừa đảo vì sự hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm cũng như các sản phẩm mà họ tung ra thị trường đều được Bộ tài chính và các cơ quan nhà nước khác kiểm soát rất chặt chẽ và đảm bảo đúng luật. Tuy nhiên, do sự thiếu hiểu biết của người tham gia nên dẫn đến tình trạng trên. Nhưng vấn đề mà tôi muốn nhấn mạnh là gì: nếu như hủy hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ở những năm đầu tiên thì coi như bên mua bảo hiểm mất trắng hoặc nếu có nhận được thì số tiền nhận về là rất ít nhưng với bảo hiểm xã hội, người tham gia muốn dừng bảo hiểm bất kỳ lúc nào đều được và được hoàn trả lại tiền đóng theo công thức cụ thể của quyền lợi: thanh toán bảo hiểm xã hội một lần. Đương nhiên, tiền bảo hiểm xã hội một lần cũng không phải là quá cao nhưng phần nào bù đắp được số tiền mà người lao động đã đóng vào. Thêm nữa, do người lao động chỉ đóng 1 phần mà được người sử dụng lao động đóng cho 2 phần nên khi thanh toán bảo hiểm một lần nhiều người cho rằng lời, lãi là vì thế còn bảo hiểm nhân thọ thì khác, nếu hủy ngang hợp đồng trong 2 năm đầu tiên sẽ coi như là mất trắng, còn hủy ngang từ năm thứ hai đến năm thứ 10 thì giá trị hoàn lại là không nhiều.

Tham gia bảo hiểm dù là bảo hiểm xã hội hay bảo hiểm nhân thọ thì đều có luật chơi, nếu người tham gia tuân thủ luật chơi thì khi kết thúc thời hạn hợp đồng, người tham gia sẽ nhận về đầy đủ quyền lợi còn khi phá ngang luật chơi thì thiệt thòi nhận về là người chơi. Trong bảo hiểm xã hội hoặc bảo hiểm nhân thọ cũng vậy, nếu như người chơi tuân thủ và chơi đúng luật thì khi hết hạn hợp đồng bảo hiểm nhân thọ họ sẽ nhận về đầy đủ giá trị hoàn lại, còn với bảo hiểm xã hội họ sẽ nhận về quyền lợi khác như chế độ hưu trí hoặc chế độ tử tuất… Nhưng khi người tham gia bảo hiểm phá ngang hợp đồng trong bảo hiểm nhân thọ hoặc tất toán bảo hiểm xã hội một lần trong bảo hiểm xã hội thì sự thiệt thòi đều thuộc về người tham gia. Nhưng xét cho cùng thì bảo hiểm xã hội ít thiệt thòi hơn bảo hiểm nhân thọ khi người tham gia phá ngang hợp đồng. Điều này khá dễ hiểu bởi bảo hiểm nhân thọ mang tính chất kinh doanh, kiếm lợi còn bảo hiểm xã hội là phi lợi nhuận được Nhà nước đảm bảo với mục đích an sinh xã hội.

Kết luận: Qua những phân tích nêu trên, phần nào các bạn đã thấy được những ưu điềm khi tham gia bảo hiểm xã hội so với khi tham gia bảo hiểm nhân thọ. Tôi không khẳng định hoàn toàn là bảo hiểm xã hội ưu Việt hơn so với Bảo hiểm nhân thọ bởi sản phẩm nào cũng có những ưu điểm và nhược điểm. Theo đó, nhược điểm của sản phẩm này lại là ưu điểm của sản phẩm kia. Vì vậy, quyết định cuối cùng vẫn là của bạn, hãy cân nhắc thật kỹ lưỡng trước khi quyết định. Đối với tôi, sự kết hợp của hai loại hình bảo hiểm nêu trên sẽ là một sự bảo vệ an toàn nhất cho bản thân và gia đình.

Sau khi đọc hết bài viết trên, bạn có ý kiến gì đóng góp, bổ sung hay phản biện đối với những quan điểm nêu trong bài. Hãy comment xuống dưới để cùng thảo luận.​
 
Last edited by a moderator: