Bước Phát Triển Trong Quy Định Của Bảo Hiểm Xã Hội. Đánh Giá Sự Thay Đổi

Bước phát triển trong quy định của Bảo hiểm xã hội


Giá trị lớn nhất mà Bảo hiểm xã hội mang lại đó là sự an sinh cho toàn xã hội. Chính vì vậy, với mục đích bao phủ trên diện rộng của Bảo hiểm mà trong những năm gần đây, nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm tạo điều kiện phát triển trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, thực tế thì người lao động không mấy mặn mà với chính sách bảo hiểm dẫn đến tỷ lệ người lao động gắn bó với Bảo hiểm xã hội là không nhiều. Vậy, trong gần 10 năm phát triển từ Bộ luật lao động năm 2012, Luật Bảo hiểm xã hội 2006 đến Bộ luật lao động năm 2019, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, chính sách bảo hiểm đã có những gì thay đổi và sự thay đổi này đã và đang tác động như thế nào đến xã hội.

Bước phát triển trong quy định của Bảo hiểm xã hội​


Thứ nhất, Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội​


Từ thời điểm Bộ luật lao động năm 2012 có hiệu lực ngày 01/05/2013 và được thể chế hóa theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 cho đến ngày 01/01/2021 khi Bộ luật lao động năm 2021 được thi hành, Nhà nước đã có những chính sách mở rộng đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội. Điều này là hoàn toàn phù hợp với mục tiêu mở rộng diện bao phủ Bảo hiểm xã hội trong toàn xã hội.

Tại thời điểm Bộ luật lao động năm 2012 có hiệu lực thì đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc (Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014) là Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động mùa vụ có thời hạn từ đủ 03 tháng trở lên nhưng đến thời điểm hiện tại thì đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội đã áp dụng đối với loại Hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng trở lên.

Trong thực tiễn áp dụng quy định về Bảo hiểm xã hội cho thấy, đa số các doanh nghiệp sử dụng lao động luôn muốn trốn đóng bảo hiểm xã hội hoặc nếu đóng thì tìm cách đóng ít nhất có thể. Do đó, việc quy định người lao động có hợp đồng lao động từ đủ 03 tháng trở lên bắt buộc phải tham gia bảo hiểm xã hội vô tình đã tạo ra lỗ hổng lớn để doanh nghiệp trốn đóng. Chính vì thế mà tại thời điểm hiện nay, pháp luật bảo hiểm đã đưa ra những quy định chặt chẽ hơn vừa để đảm bảo quyền lợi cho người lao động vừa hạn chế những sai phạm của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện bảo hiểm xã hội.

Thứ hai, Tiền lương tháng làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội​


Tiền lương tháng đóng BHXH đối với người lao động thực hiện theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định là mức lương, phụ cấp lương. Tại thời điểm thi hành của Bộ luật lao động năm 2012 (01/05/2013 – 31/12/2020) thì có 07 loại phụ cấp bắt buộc phải đóng Bảo hiểm xã hội cụ thể: 1. Phụ cấp chức danh; 2. Phụ cấp khu vực; 3. Phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; 4. Phụ cấp trách nhiệm; 5. Phụ cấp thâm niên; 6. Phụ cấp lưu động; 7. Phụ cấp thu hút và các phụ cấp có tính chất tương tự. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, pháp luật đã quy định mở rộng hơn về các loại phụ cấp phải đóng bảo hiểm xã hội. Nếu trước đây pháp luật quy định theo hướng liệt kê thì quy định hiện hành đã khắc phụ được điểm yếu đó, cụ thể: Tiền lương làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội với người lao động thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quy định là mức lương, phụ cấp và các khoản bổ sung khác. Theo đó, mức lương và các khoản phụ cấp đóng bảo hiểm xã hội thì không có sự thay đổi nhưng thêm vào đó là quy định về bắt buộc đóng bảo hiểm cho những khoản bổ sung khác được trả cùng với kỳ trả lương mà có tính chất ổn định.

Lý giải cho sự thay đổi trên là vì: Trên thực tế thi hành quy định của Bảo hiểm xã hội, nhằm giảm thiểu chi phí đóng Bảo hiểm xã hội mà đa số các doanh nghiệp tìm cách đóng mức bảo hiểm cho người lao động thấp nhất có thể mặc dù lương thực nhận của họ có thể gấp 02 hoặc 03 lần so với lương đóng Bảo hiểm. Khi thanh kiểm tra hồ sơ lao động tại doanh nghiệp thì xuất hiện vấn đề: Doanh nghiệp bóc tách mức lương thực nhận thành 02 phần: phần thứ nhất là mức lương cơ bản đóng bảo hiểm và phần thứ hai là các khoản phụ cấp khác không phải đóng bảo hiểm xã hội nhưng lại được trả thường xuyên, ổn định và được tính cùng kỳ trả lương. Do đó, quy định mở rộng về tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội như trên đã hạn chế được việc trốn đóng bảo hiểm của các Doanh nghiệp.

Bước phát triển trong quy định của Bảo hiểm xã hội


Thứ ba, Sự thay đổi trong Chế độ hưu trí cho Người lao động​


Phải khẳng định rằng: từ Bộ luật lao động năm 2012 đến Bộ luật lao động năm 2019 sự thay đổi lớn nhất và gây ảnh hưởng dư luận nhất phải kể đến những thay đổi trong chính sách hưu trí của Bảo hiểm xã hội. Sự thay đổi đó phải kể đến là: Điều kiện nghỉ hưu (tuổi nghỉ hưu) và Cách tính mức hưởng chế độ hưu trí (mức lương hưu). Cụ thể:

  • Điều kiện nghỉ hưu: Giai đoạn trước ngày 01/01/2021 khi Bộ luật lao động năm 2012 vẫn còn hiệu lực thi hành, điều kiện nghỉ hưu đối với người lao động trong trường hợp thông thường là 55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với nam đồng thời phải có thời gian tham gia Bảo hiểm xã hội từ đủ 20 năm. Nhưng đến thời điểm Bộ luật Lao động năm 2019 áp dụng từ ngày 01/01/2021 thì tuổi nghỉ hưu có sự thay đổi: nữ là 55 tuổi 4 tháng và nam là 60 tuổi 3 tháng, sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 3 tháng đối với nam cho đến khi đủ 57 tuổi vào năm 2028 và cứ mỗi năm tăng thêm 4 tháng đối với nữ cho đến khi đủ 55 tuổi vào năm 2035 (quy định này được chi tiết tại Nghị định 135/2020/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm 2020).
Việc tăng lộ trình tuổi nghỉ hưu đối với người lao động làm trong điều kiện bình thường dẫn tới có sự thay đổi về tuổi nghỉ hưu đối với những trường hợp người lao động làm trong điều kiện đặc biệt (Điều 54, Điều 55 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014). Cụ thể:

- Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không quá 05 tuổi so với người lao động làm trong điều kiện bình thường.

- Tuổi về hưu của người lao động có 15 năm làm việc khai thác than trong hầm lò là thấp hơn không quá 10 tuổi so với người làm việc trong điều kiện bình thường.

Như vậy, từ so sánh trên ta thấy: tuổi nghỉ hưu trong các trường hợp có xu hướng tăng lên nhưng điều kiện về thời gian đóng Bảo hiểm xã hội để về hưu không có sự thay đổi.

  • Cách tính mức hưởng chế độ hưu trí: Việc tính toán chế độ hưu trí của Lao động nam và Lao động nữ có sự khác nhau và thay đổi từ 01/05/2013 đến 01/01/2021. Cụ thể:
- Đối với lao động nam: Cách tính mức hưởng lương hưu cho lao động nam khi Bộ luật lao động năm 2012 có hiệu lực được tính 15 năm đóng BHXH đầu tính hưởng 45%, sau đó cứ thêm 1 năm đóng Bảo hiểm xã hội thì được tính hưởng thêm 2%. Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 2021 thì 19 năm đóng BHXH được tính hưởng 45% và từ năm 2022 trở đi thì 20 năm đóng BHXH sẽ được tính là 45%. Như vậy, để được hưởng lương hưu với tỷ lệ tối đa là 75% thì vào thời điểm trước đây chỉ cần lao động nam đóng 30 năm BHXH nhưng đến 1/1/2021 là 34 năm BHXH và từ năm 2022 trở đi phải đóng 35 năm BHXH.

- Đối với lao động nữ: giai đoạn đầu áp dụng Bộ luật lao động năm 2012 (từ 01/05/2013 – 31/12/2018) thì mức hưởng lương hưu của lao động nữa được tính là 15 năm đóng BHXH đầu tính hưởng 45%, sau đó cứ đóng thêm BHXH 1 năm thì được tính hưởng thêm 3%. Tuy nhiên, từ 2018 đến hiện nay có sự điều chỉnh thay đổi khi lao động nữ cứ đóng thêm 1 năm BHXH chỉ được tính hưởng thêm 2%. Việc thay đổi này đã dẫn đến việc: nếu như trước đây lao động nữ chỉ cần đóng BHXH đủ 25 năm là được hưởng tối đa 75% tỷ lệ hưởng hưu thì đến hiên tại phải đóng 30 năm BHXH mới được hưởng mức tối đa là 75%.

Như vậy, từ so sánh nêu trên ta thấy: chính sách lương hưu đang làm bất lợi cho người lao động. Thay vì trước đây người lao động đóng thời gian Bảo hiểm xã hội ít và tuổi đời ít đã được về hưu thì hiện tại Nhà nước tăng tuổi hưu, thay đổi cách tính hưu bất lợi hơn cho người lao động.

Kết luận: Sự thay đổi lớn nhất trong chính sách Bảo hiểm xã hội theo quy định của Bộ luật lao động năm 2012 và Bộ luật lao động năm 2019 đó là chính sách hưu trí đặc biết là điều kiện về tuổi nghỉ hưu. Trong một thời gian dài từ khi dự thảo tăng lộ trình tuổi nghỉ hưu cho đến khi chính thức áp dụng từ ngày 01/01/2021 đã làm hoang mang trong dư luận đặc biệt là người lao động khi mà: người lao động muốn giảm số năm đóng bảo hiểm và giảm tuổi để về hưu thì chính sách bảo hiểm xã hội của nhà nước lại đi ngược lại theo hướng: tăng tuổi nghỉ hưu và tăng thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

Bước phát triển trong quy định của Bảo hiểm xã hội


Đánh giá sự phát triển​


Sau gần 10 năm, chính sách về bảo hiểm xã hội có rất nhiều thay đổi nhưng hướng thay đổi lớn nhất là: Nhà nước định hưởng mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, với mục đích bao phủ bảo hiểm xã hội trên diện rộng. Đồng thời, hướng người lao động hiểu được giá trị của Bảo hiểm xã hội và gắn bó lâu dài hơn với Bảo hiểm. Nhưng thực tế cho thấy rằng: người lao động không mấy mặn mà với Bảo hiểm xã hội đặc biết là chế độ hưu trí khi mà tỷ lệ người lao động thanh toán BHXH 1 lần ngày càng tăng. Vậy, chính sách thay đổi của bảo hiểm hiện nay có đem lại sự an sinh như những gì mà Nhà nước mong muốn hướng tới. Sắp tới, Quốc hội có dự định sửa đổi Luật bảo hiểm xã hội theo hướng mở rộng các quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm. Liệu sự thay đổi sắp tới có mở cho Bảo hiểm một hướng đi mới?