06 Nguyên Nhân Khiến Người Lao Động Chưa Nhận Được Tiền Thai Sản

06 nguyên nhân khiến người lao động chưa nhận được tiền thai sản


Chế độ thai sản là một trong những quyền lợi được nhiều người đặc biệt quan tâm. Điều kiện để người lao động lãnh tiền thai sản khá đơn giản, chỉ cần người lao động đóng được 6 tháng bảo hiểm xã hội trong 12 tháng trước khi sinh là người lao động có thể nhận được tiền thai sản trong 6 tháng nghỉ sinh. Tuy nhiên, khi người lao động vẫn còn là người lao động của công ty thì người lao động không thể tự làm hồ sơ nhận tiền thai sản mà buộc phải nhờ qua công ty. Nhưng một bất cập xảy ra là nhiều doanh nghiệp lợi dụng điều đó để giữ tiền của người lao động hoặc cố tình không trả, bắt người lao động phải đóng tiền bảo hiểm hay trừ tiền của người lao động một cách bất hợp lý. Vì vậy, trong bài viết này, tôi sẽ tổng hợp 6 trường hợp khiến người lao động chưa được nhận tiền thai sản khi sinh con:

1. Doanh nghiệp nơi người lao động đang làm việc chưa làm hồ sơ đề nghị hưởng chế độ thai sản trên cơ quan Bảo hiểm xã hội


Theo quy định Luật BHXH 2014, sau khi sinh con, chậm nhất là 45 ngày kể từ ngày người lao động đi làm lại sau khi hết thời gian thai sản, thì đơn vị phải làm hồ sơ thai sản. Điều này có nghĩa là: thời hạn làm chế độ thai sản của người lao động bắt đầu từ khi họ sinh con đến khi họ quay trở lại làm việc. Vì thế, có những trường hợp, ngay sau khi sinh con người lao động gửi giấy tờ đến đơn vị để đơn vị làm hồ sơ hưởng thai sản cho họ. Bởi, tiền thai sản được nhận là khá lớn nên người lao động luôn muốn làm sớm nhất để nhận tiền trợ cấp trang trải cuộc sống.

Tuy nhiên, nhiều trường hợp cho thấy: sau khi người lao động chuyển giấy khai sinh đến công ty nhưng chờ rất lâu không được tiền thai sản. Khi hỏi công ty thì nhận được câu trả lời là: đơn vị đã làm nhưng cơ quan bảo hiểm xã hội chưa chi trả nhưng thực chất là công ty chưa làm hồ sơ. Vậy, trong trường công ty trả lời đã nộp hồ sơ thì người lao động có thể xin số hồ sơ để tự tra cứu quá trình giải quyết. Nếu người lao động có sử dụng ứng dụng VssID trên điện thoại di động thì có thể vào ứng dụng để xem hồ sơ thai sản được giải quyết hay chưa. Nếu giải quyết xong, trên ứng dụng VssID sẽ ghi số tiền thai sản được nhận.


06 nguyên nhân khiến người lao động chưa nhận được tiền thai sản


2. Quá thời hạn nộp hồ sơ​


Khoản 1 Điều 102 Luật BHXH năm 2014 quy định, việc nộp hồ sơ hưởng chế độ thai sản chậm nhất là trong khoảng 45 ngày kể từ ngày lao động nữ trở lại làm việc. Vậy, nếu vì bất kỳ lý do nào khiến đơn vị nộp hồ sơ muộn hơn thời hạn quy định thì cần nộp kèm văn bản giải trình lý do. Sau khi được cơ quan bảo hiểm xã hội chấp thuận người lao động sẽ được chi trả trợ cấp thai sản. Do đó, người lao động cần đặc biệt lưu ý đến thời hạn nộp hồ sơ và thúc giục công ty hoàn thiện hồ sơ sớm tránh ảnh hưởng đến quyền lợi của bản thân.

3. Doanh nghiệp nơi người lao động đang làm việc đang nợ tiền Bảo hiểm xã hội​


Một trong những trách nhiệm của người lao động và người sử dụng lao động là phải đóng tiền bảo hiểm xã hội. Theo đó, hàng tháng người sử dụng sẽ trừ tiền đóng bảo hiểm vào tiền lương của người lao động, đồng thời trích một khoản tiền tương ứng với số tiền phải đóng nộp đến cơ quan bảo hiểm xã hội nơi doanh nghiệp đặt trụ sở. Khi đơn vị thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về bảo hiểm xã hội thì sẽ được cơ quan bảo hiểm chi trả đầy đủ các chế độ cho người lao động. Trên thực tế, không ít trường hợp, hàng tháng đơn vị vẫn thu tiền bảo hiểm của người lao động nhưng không chuyển tiền đóng bảo hiểm lên cơ quan bảo hiểm xã hội, dẫn đến tình trạng khi người lao động đủ điều kiện nhận các chế độ của bảo hiểm thì vẫn không được hưởng thai sản vì đơn vị nợ tiền bảo hiểm. Vậy, trong trường hợp này nhiều đơn vị sau khi làm hồ sơ đã được cơ quan bảo hiểm xã hội gửi thông báo phế duyệt chế độ và biết số tiền được nhận nhưng chờ rất lâu vẫn chưa nhận được tiền trợ cấp.

Do đó, nếu đơn vị đang nợ tiền bảo hiểm thì chỉ khi nào đơn vị đóng đầy đủ tiền đến thời điểm hiện tại thì cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ thanh toán chế độ cho người lao động. Trường hợp nợ tiền bảo hiểm quá lâu thì cơ quan bảo hiểm xã hội có thể làm thông báo yêu cầu thanh kiểm tra đơn vị. Hoặc sau khi nộp tiền đủ lên bảo hiểm xã hội, muốn nhận được tiền thai sản phải làm công văn gửi lên bảo hiểm xã hội đề nghị chi trả trợ cấp cho người lao động.

Nhiều người hỏi tôi rằng: đơn vị có thể đóng trước khoản tiền của người lao động nghỉ thai sản để cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp cho họ được không? Trường hợp này tùy thuộc vào từng cơ quan BHXH. Nếu đơn vị bạn muốn làm theo phương án này có thể làm công văn giải trình lý do và yêu cầu cơ quan bảo hiểm xã hội cho phép đóng trước cho lao động đó và đề nghị xin nhận tiền thai sản để cơ quan bảo hiểm xã hội xem xét. Tuy nhiên, trên thực tế tôi chưa thấy trường hợp nào được phía BHXH đồng ý. Do đó, nhiều trường hợp phải chờ đến khi đơn vị đóng đủ tiền thì người lao động mới được nhận được tiền thai sản nhưng lúc đó có thể họ đã nghỉ việc rồi.

4. NLĐ nghỉ thai sản trước sinh quá 02 tháng​


Khoản 1 Điều 34 Luật BHXH năm 2014 quy định: NLĐ được nghỉ trước và sau sinh con 6 tháng. Nhưng cần lưu ý, thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản trước khi sinh con không quá 02 tháng. Vậy, nếu người lao động nghỉ thai sản trước khi sinh con quá 02 tháng sẽ bị ảnh hưởng đến hồ sơ hưởng chế độ thai sản. Nói đúng hơn là: người lao động vẫn được nhận tiền thai sản nhưng đơn vị cần điều chỉnh lại hồ sơ báo giảm cho phù hợp với thời gian sinh của người lao động, miễn sao nghỉ thai sản không quá 02 tháng trước sinh. Ví dụ: người lao động dự sinh ngày 11/10/2021 thì người lao động được nghỉ thai sản sớm tối đa từ 11/08/2021. Nếu nghỉ trước thời gian này hồ sơ thai sản sau sinh sẽ khó giải quyết. Tuy nhiên, do thời gian dự sinh và thời gian thực tế sinh là khác nhau, việc sinh sớm hay muộn không anh có thể đoán trước được. Nếu sinh sớm thì không sao, nhưng nếu sinh muộn thì việc tính toán nghỉ sinh trước 02 tháng sẽ bị sai số. Cũng từ ví dụ trên, dự sinh của người lao động là 11/10/2021 nhưng đến tận 20/10/2021 người lao động mới sinh con nhưng đơn vị lại báo giảm thai sản từ 11/08/2021 như vậy là quá 02 tháng.

Vậy, làm thế nào để báo giảm thai sản cho người lao động đúng mà không bị ảnh hưởng?

- Thứ nhất,
đơn vị cần biết chính xác ngày dự sinh của người lao động từ đó lùi thời gian về trước 02 tháng để thực hiện báo giảm. Ví dụ trường hợp trên, dự sinh là 11/10/2021 thì lùi 02 tháng là 11/08/2021, đơn vị báo giảm tháng 8/2021 nghỉ thai sản và ghi chú ngày nghỉ là ngày 11/08/2021. Tuy nhiên cách làm này sẽ gặp rủi do nếu người lao động sinh sau ngày dự sinh.

- Thứ hai, nếu đơn vị muốn chọn phương án an toàn thì cho người lao động nghỉ sớm từ 01 tháng đến 1.5 tháng trước sinh. Cụ thể: dự sinh con là 11/10/2021 thì đơn vị có thể báo giảm sớm trươc sinh từ ngày 1/9/2021. Vậy nếu người lao động có sinh con muộn hơn dự sinh thì vẫn nằm trong phạm vi an toàn không vượt quá 2 tháng.

- Thứ ba, nếu đơn vị đã báo giảm thai sản sớm trước sinh quá 02 tháng thì cần làm thủ tục điều chỉnh lại. Ví dụ, người lao động sinh con 11/10/2021 nhưng đơn vị báo giảm thai sản từ 1/7/2021 thì cần báo tăng nguyên lương lại tháng vượt quá.

06 nguyên nhân khiến người lao động chưa nhận được tiền thai sản


5. Doanh nghiệp bị thanh tra khi làm hồ sơ hưởng chế độ thai sản​


Khi nhận thấy đơn vị có dấu hiệu trục lợi tiền thai sản, cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ có thông báo về đơn vị yêu cầu chuẩn bị hồ sơ giải trình. Do đó, hồ sơ thai sản mà bị thanh tra thường sẽ rất lâu mới nhận được tiền thai sản hoặc có những trường hợp không nhận được vì kết luận của bảo hiểm xã hội cho rằng có hành vi trục lợi bảo hiểm. Vì vậy, khi có thông báo hồ sơ thai sản bị thanh tra, đơn vị cần lên bảo hiểm để giải trình, nếu hồ sơ giải trình không có dấu hiệu trục lợi, cơ quan bảo hiểm sẽ chi trả tiền thai sản cho người lao động.

Người lao động cần lưu ý, sau khi nộp giấy khai sinh cho đơn vị làm chế độ thai sản, nếu đơn vị làm hồ sơ và gửi lên bảo hiểm xã hội ngay, hồ sơ hợp lệ thì sau khoảng 01 tháng cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ chi trả tiền thai sản. Ngược lại, hồ sơ có dấu hiệu trục lợi, bên bảo hiểm sẽ gửi thông báo yêu cầu giải trình. Khi đó, đơn vị cần liên hệ với cơ quan bảo hiểm để hẹn lịch giải trình. Sau khi giải trình xong mà hồ sơ được chấp nhận thì sau khoảng 01 tháng cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ chuyển tiền về. Như vậy, tiền thai sản trong trường hợp hồ sơ bị thanh tra nhận nhanh hay chậm phụ thuộc vào công ty đã giải trình hồ sơ với bảo hiểm xã hội hay chưa. Nếu công ty trả lời người lao động là đã giải trình rồi nhưng chưa thấy tiền thai sản thì khả năng cao hồ sơ giải trình gặp vấn đề, vì nếu giải trình xong thì bên bảo hiểm đã chuyển tiền về cho người lao động rồi.

6. Doanh nghiệp đã nhận được tiền thai sản nhưng chưa trả cho người lao động​


Trên thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp trục lợi tiền trợ cấp bảo hiểm của người lao động dưới nhiều hình thức khác nhau như:

- Đơn vị đã nhận được tiền thai sản nhưng thông báo với người lao động là chưa nhận được nhằm mục đích sử dụng tiền thai sản của người lao động. Đồng thời hẹn người lao động về việc trả tiền muộn hơn hoặc không trả.

- Đơn vị đã nhận được tiền thai sản của người lao động nhưng thông báo với người lao động đến khi nào hết thai sản đi làm trở lại mới trả tiền thai sản, mục đích không muốn người lao động nghỉ việc luôn do sợ cơ quan bảo hiểm xã hội thanh tra và truy thu lại tiền thai sản. Điều này là không có cơ sở, vì nếu hồ sơ thai sản của người lao động bị thanh tra thì ngay từ thời điểm nộp hồ sơ yêu cầu bên bảo hiểm sẽ yêu cầu giải trình, nhưng khi đã trả tiền thai sản về đơn vị sẽ không có trường hợp bị tranh tra khi người lao động nhận tiền thai sản xong mà nghỉ luôn.

- Đơn vị đã nhận được tiền thai sản của người lao động nhưng cố tình trừ 4 triệu hoặc 5 triệu tiền thai sản để đóng tiếp bảo hiểm cho người lao động sau khi hết thời gian nghỉ thai sản đi làm lại.

- Đơn vị đã nhận được tiền thai sản của người lao động nhưng yêu cầu người lao động tự bỏ ra toàn bộ số tiền đóng bảo hiểm của 6 tháng nghỉ thai sản được công ty đóng cho. Điều này là vô lý: vì thời gian người lao động nghỉ thai sản được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận là có đóng bảo hiểm xã hội mà đơn vị và người lao động không phải đóng tiền bảo hiểm xã hội.



Như vậy, dù là bất kỳ lý do gì khiến doanh nghiệp giữ tiền trợ cấp thai sản của người lao động là hành vi sai trái, vi phạm pháp luật. Vì du, người lao động có nghĩa vụ tài chính đối với công ty thì cũng không được phép giữ tiền trợ cấp của họ hoặc trừ tiền trợ cấp của họ khi không được sự đồng ý, thỏa thuận của các bên. Do đó, nếu gặp trường hợp này, người lao động có thể tự bảo vệ bản thân bằng cách: làm đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đến phòng lao động thương binh và xã hội huyện/quận nơi đơn vị đặt trụ sở để nhờ trợ giúp của cơ quan có thẩm quyền hoặc có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân.
 
Last edited by a moderator: