05 Vấn Đề Cần Lưu Ý Về Chế Độ Dưỡng Sức Sau Sinh Của Lao Động Nữ

05 vấn đề cần lưu ý về chế độ dưỡng sức sau sinh của lao động nữ

Dưỡng sức sau sinh là một trong những quyền lợi của lao động nữ trong chế độ thai sản được quy định tại Luật bảo hiểm xã hội năm 2014. Tuy nhiên, nhiều người lao động chỉ biết đến chế độ thai sản sau khi sinh con 6 tháng mà quên đi việc mình còn được hưởng chế độ dưỡng sức sau sinh. Điều này dẫn đến việc ảnh hưởng đến các quyền lợi của lao động nữ. Bởi theo đánh giá, quyền lợi dưỡng sức sau sinh đem lại rất nhiều lợi ích cho lao động nữ cả về mặt sức khỏe lẫn tài chính. Lao động nữ được nghỉ thêm chế độ dưỡng sức và nhận tiền trợ cấp được tính trên mức lương cơ sở cho 1 ngày nghỉ. Khoản tiền nhận về là rất cao. Với những lao động phổ thông ở những vùng lương II, III, IV thì khoản tiền nhận về gần bằng 01 tháng lương người lao động đi làm. Vậy nên, trong bài viết này tôi sẽ chia sẻ cho mọi người những vấn đề cần biết về chế độ dưỡng sức sau khi sinh con của lao động nữ.

Khi nào được nhận chế độ dưỡng sức sau sinh?​

Theo Điều 41 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì chế độ dưỡng sức sau sinh áp dụng cho đối tượng người lao động nữ đã hưởng chế độ thai sản, khi quay trở lại làm việc tại Doanh nghiệp sức khỏe còn yếu và chưa phục hồi. Chế độ dưỡng sức còn áp dụng với trường hợp lao động nữ nghỉ hưởng chế độ sảy thai, thai chết lưu, phá thai bệnh lý… Do đó, nếu như lao động nữ ngay sau khi nghỉ hết chế độ thai sản theo Điều 34 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì sẽ được nghỉ hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau sinh.

Quyền lợi chế độ dưỡng sức sau sinh như thế nào?​

Lao động nữ được nghỉ hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau sinh con. Số ngày nghỉ phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của người lao động, cụ thể:

- Tối đa 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ hai con trở lên;

- Tối đa 07 ngày đối với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật;

- Tối đa 05 ngày đối với các trường hợp khác.

Thời gian nghỉ dưỡng sức, phụ hồi sức khỏe sau sinh tính cả ngày nghỉ lễ tết, nghỉ hằng tuần.

Mức hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau sinh một ngày được tính bằng 30% mức lương cơ sở. Mức lương cơ sở hiện tại là 1.490.000 đồng theo Nghị định 38/2019/NĐ-CP. Như vậy, một ngày nghỉ dưỡng sức của người lao động được lãnh 447.000 đồng. Nếu như người lao động nghỉ 5 ngày sẽ được lãnh 2.235.000 đồng, nghỉ 7 ngày được hưởng là 3.129.000 đồng, nghỉ 10 ngày được hưởng là: 4.470.000 đồng.

Điều kiện hưởng chế độ dưỡng sức sau sinh như thế nào?​

Theo quy định tại Điều 41 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày người lao động quay trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05 ngày đến 10 ngày. Như vậy, chỉ cần người lao động nữ sức khỏe chưa phục hồi có thể yêu cầu đơn vị cho nghỉ chế độ dưỡng sức mà không yêu cầu bất kỳ điều kiện gì thêm. Do đó, người lao động cần biết để không đánh mất quyền lợi của mình.

Nghỉ dưỡng sức có phải xin giấy tờ gì của bệnh viện không?​

Rất nhiều doanh nghiệp yêu cầu người lao động cung cấp Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng chế độ bảo hiểm để chứng minh việc không đủ sức khỏe để xin nghỉ dưỡng sức. Điều này là sai quy định. Bởi đa số, người lao động khi đi xin giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm đều không được cơ sở khám chữa bệnh cấp mà phải xử lý bằng cách khác để có giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm. Hành vi trên của doanh nghiệp đã cản trở người lao động nhận quyền lợi từ bảo hiểm xã hội. Thêm vào đó, nhiều doanh nghiệp còn từ chối không giải quyết chế độ dưỡng sức khi người lao động không nộp giấy chứng nhận nghỉ việc của cơ sở y tế. Vậy, quy định của luật về vấn đề này như thế nào?

Điều 41 và Điều 103 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì khi làm chế độ dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau sinh không yêu cầu người lao động phải nộp bất kỳ giấy tờ gì. Theo đó, đơn vị và công đoàn cơ sở căn cứ vào tình hình sức khỏe của người lao động ra quyết định cho người lao động nghỉ hưởng chế độ dưỡng sức. Đồng thời, đơn vị sử dụng người lao động có trách nhiệm làm hồ sơ mẫu 01b-HSB nộp lên cơ quan Bảo hiểm xã hội để giải quyết quyền lợi cho người lao động.

Vậy, có chăng những giấy tờ mà người lao động phải nộp cho đơn vị chỉ là Giấy chứng nhận phẫu thuật hoặc giấy ra viện để chứng minh việc người lao động sinh con phẫu thuật hoặc sinh đôi để được nhận quyền lợi cao hơn của chế độ dưỡng sức. Do đó, pháp luật bảo hiểm xã hội hiện hành không có quy định về việc yêu cầu người lao động phải có Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội của cơ sở y tế. Điều này người lao động cần đặc biệt lưu ý để đảm bảo quyền và lợi ích của mình.

Ngay sau khi nghỉ hết 6 tháng thai sản, nếu nghỉ không lương có được hưởng chế độ dưỡng sức không?​

Theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội 2014 thì chế độ dưỡng sức chỉ áp dụng cho trường họp lao động nữ sau khi hết thời gian nghỉ sinh quay trở lại làm việc mà sức khỏe còn yếu không thể tiếp nhận công việc ngay được thì được cơ quan bảo hiểm xã hội ưu tiên nghỉ dưỡng sức. Vậy nếu người lao động đã nghỉ không lương thêm 1 tháng sau khi hết chế độ thai sản thì cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ không cho hưởng chế độ dưỡng sức. Bởi vì nếu người lao động đã nghỉ thêm 01 tháng không lương thì sức khỏe người lao động đã ổn định thì không được nghỉ dưỡng sức nữa.

Cần lưu ý: thông thường khi làm hồ sơ hưởng chế độ dưỡng sức sau sinh thì người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội của tháng nghỉ dưỡng sức đó, nếu báo giảm nghỉ không lương hoặc nghỉ hẳn ngay sau khi đi làm lại sẽ không được nhận chế độ dưỡng sức.

Nếu người lao động đi làm sớm trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản thì có được hưởng tiền dưỡng sức không?​

Trong trường hợp này, pháp luật lao động – bảo hiểm có quy định về việc cho phép người lao động được đi làm sớm trước khi hết chế độ thai sản là không quá 02 tháng. Đồng thời khi đi làm sớm, người lao động sẽ phải đóng bảo hiểm xã hội. Vậy, người lao động có sức khỏe để đi làm sớm trước khi hết chế độ thai sản thì không được nghỉ chế độ dưỡng sức sau sinh. Bởi bản chất chế độ dưỡng sức sau sinh chỉ áp dụng cho những trường hợp sức khỏe còn yếu, còn chưa hồi phục mà đã hết thời gian nghỉ chế độ thai sản 6 tháng mà phải quay lại làm việc. Đối với những trường hợp có sức khỏe hoặc sức khỏe đã ổn định thì sẽ không được giải quyết chế độ này.

Tổng kết: Qua nhưng phân tích nêu trên, người lao động cần lưu ý đến những quy định của pháp luật để không đánh mất quyền lợi của bản thân. Đồng thời, trường hợp bị đơn vị sử dụng lao động hoặc cơ quan bảo hiểm gây khó dễ thì biết cách bảo vệ, tự khiếu nại cho trường hợp của mình.
 
Last edited by a moderator: